08.00 - 17.00 Thứ Hai tới Thứ Sáu

Hotline 24/7 (+84) 0243-999-1515

hands TULDTTThoả ước lao động tập thể (TƯLĐTT) là văn bản thoả thuận giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động về quyền lợi và nghĩa vụ của 2 bên trong quan hệ lao động. Đó là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên trong quan hệ lao động; là công cụ quan trọng của công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ người lao đông (NLĐ). Vì vậy, trong nhiều năm qua, các cấp công đoàn nói chung và trong mỗi doanh nghiệp nói riêng đã quan tâm triển khai thực hiện việc xây dựng, thương lượng, ký kết thực hiện TƯLĐTT tại mỗi đơn vị.

Với chức năng của mình, tổ chức công đoàn có nhiệm vụ vận động, tập hợp ý kiến, nguyện vọng của NLĐ tham gia quá trình thương lượng và là đại diện tập thể lao động trực tiếp thương lượng, ký kết TƯLĐTT.

Một số nội dung cơ bản cho cán bộ công đoàn cơ sở (CĐCS) cần chú trọng khi tham gia đàm phán, thương lượng với người sử dụng lao động như sau:

- Thứ nhất về việc làm và bảo đảm việc làm: cán bộ CĐCS cần thương lượng cụ thể, rõ ràng về các hình thức và thời hạn tiến hành giao kết hợp đồng lao động (HĐLĐ) cho từng loại công việc, từng chức danh và cấp bậc thợ trong doanh nghiệp; liên tục tổ chức thi nâng cao tay nghề, đào tạo lại, giao kết lại HĐLĐ.

- Thứ hai về thời gian làm việc/nghỉ ngơi: khi thương lượng CĐCS cần quy định cụ thể thời giờ làm việc tối đa cho từng bộ phận và thời gian cho phép làm thêm giờ, đơn giá tiền lương làm thêm giờ. Chế độ nghỉ hàng tuần, nghỉ ngày lễ, ngày tết, nghỉ việc riêng và nghỉ phép năm...

- Thứ ba về tiền lương, tiền thưởng và phụ cấp lương: Đây là nội dung rất quan trọng đòi hỏi CĐCS phải thoả thuận rõ về mức tiền lương và phụ cấp lương cụ thể cho từng công việc với khả năng của NLĐ cũng như hiệu quả của doanh nghiệp; các nguyên tắc nâng bậc lương, tính lương làm tăng ca, thời gian trả lương, nguyên tắc chi thưởng và mức thưởng cho từng loại công việc...

- Thứ tư về định mức lao động: việc xác lập định mức lao động phải dựa trên cơ sở điều kiện thực tế về tính chất, mức độ phức tạp hay nặng nhọc của công việc. Từ đó để xác định đơn giá tiền lương phù hợp với từng loại công việc cũng như cấp bậc thợ nhằm đảm bảo mức thu nhập hợp lý nhất cho NLĐ.

- Thứ năm về vấn đề an toàn vệ sinh lao động( ATVSLĐ): cần có sự thoả thuận cụ thể về nội quy ATVSLĐ và các quy định về công tác bảo hộ lao động, biện pháp cải thiện về điều kiện làm việc; có các chế độ đối với những người làm công việc có tính chất nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng sức khoẻ và trách nhiệm bồi thường hoặc trợ cấp cho NLĐ khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.

- Thứ sáu về Bảo hiểm xă hội, bảo hiểm y tế: các bên cần phải thoả thuận để quy định rõ trách nhiệm, quyền lợi của DN và NLĐ trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp, thu nộp, chi trả các loại bảo hiểm, chế độ bảo hiểm mà người lao động được hưởng theo từng loại HĐLĐ.

Ngoài ra, cán bộ CĐCS cần thoả thuận thêm những nội dung khác như: Phúc lợi tập thể, ăn giữa ca, hỗ trợ nhà ở hoặc tiền tàu xe, trợ cấp hiếu hỷ, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề, tham quan, nghỉ dưỡng…

Trên thực tế ở nhiều DN hiện nay, chất lượng các bản TƯLĐTT chưa cao, việc tiến hành thương lượng của cán bộ CĐCS còn hạn chế, mang nặng tính hình thức nhằm đối phó với cơ quan chức năng, nhiều bản TƯLĐTT sau khi ký xong ít được quan tâm thực hiện hoặc bổ sung để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ. Trên báo lao động đầu tháng 9 vừa qua, Ông Nguyễn Tiến Hồi - Chủ tịch Liên đoàn lao động (LĐLĐ) huyện Kim Thành (Hải Dương) cho biết, trong số 25 DN có tổ chức CĐ trực thuộc LĐLĐ huyện, hiện nay có 17 DN xây dựng được TƯLĐTT (đạt 68%), tăng 3 DN so với năm 2016. Kết quả trên cho thấy, tuy có sự chuyển biến tích cực, song việc thương lượng, ký kết TƯLĐTT vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Chất lượng các bản TƯLĐTT tuy đã được cải thiện nhưng vẫn chưa đáp ứng được nguyện vọng của NLĐ. Nội dung có lợi cho NLĐ về tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi còn ít, chủ yếu vẫn tập trung vào các nội dung liên quan đến phúc lợi cho NLĐ. Ngoài ra, không ít DN có TƯLĐTT để hợp thức hóa, mang tính hình thức, đối phó.

Theo ông Hồi, những tồn tại trên trước hết là do nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của TƯLĐTT tại DN. Hầu hết các DN chưa sử dụng TƯLĐTT như “bộ luật” của DN để giải quyết các vấn đề quan hệ lao động. Có DN không thực hiện đúng, đủ những cam kết trong thỏa ước, đổ lỗi cho khách quan, trong khi CĐCS, NLĐ cũng không có ý kiến đấu tranh quyết liệt. Nguyên nhân nữa là do một số cán bộ CĐCS chưa nắm vững quy định của pháp luật, trình tự xây dựng, ký kết TƯLĐTT. Ngoài ra còn tồn tại một số nguyên nhân khác.

Để làm tốt vai trò của CĐCS trong quá trình thương lượng cán bộ CĐCS cần quan tâm tới một số vấn đề như:

- Nâng cao các kỹ năng: Kỹ năng thu thập thông tin, trước tiên Cán bộ CĐCS cần có những thông tin liên quan, hỗ trợ cho việc thương lượng; Kỹ năng xác định mục tiêu, chỉ tiêu cần thoả thuận khi thương lượng, đảm bảo nguyên tắc lợi ích cơ bản cho người lao động cao hơn hoặc bằng mức quy định của pháp luật; Kỹ năng tổ chức lấy ý kiến tập thể người lao động, theo đó người chủ tọa phải biết cách tổ chức lấy ý kiến, biết cách thuyết phục, dẫn dắt dư luận, thái độ của tập thể người lao động để tạo được sự đồng thuận; Kỹ năng tổ chức cuộc thương lượng, đòi hỏi các bên phải chủ động xây dựng kế hoạch, nội dung cho cuộc thương lượng, nghệ thuật thương lượng, những tác động đến đối tác trong quá tŕnh thương lượng, đồng thời phải xử lư nhanh những bế tắc đối với các nội dung trong khi thương lượng.

- Nắm vững về pháp luật lao động, Luật Công đoàn và những phong tục tập quán của từng địa phương, vùng miền.

- Thường xuyên tham gia các lớp tập huấn, tiếp thu những kiến thức, kỹ năng cần thiết để tham gia thương lượng xây dựng TƯLĐTT tại đơn vị.

- Hoạt động của công đoàn trong DN phải luôn sát thực tế, mang lại hiệu quả thực sự cho NLĐ và cho DN, luôn tạo động lực để NLĐ và DN cùng xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ.

Thông qua việc thương lượng và ký kết TƯLĐTT, công đoàn thể hiện vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động. Qua đó tạo sự tin tưởng, gắn bó của NLĐ với DN và tổ chức công đoàn. Bên cạnh đó TƯLĐTT, là cơ sở để DN xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định giữa NLĐ và người sử dụng lao động, làm cho doanh nghiệp phát triển bền vững. Vì vậy việc thương lượng, ký kết và thực hiện TƯLĐTT hiện nay khi vẫn còn nhiều bất cập cần khắc phục, thì tổ chức công đoàn lại càng cần trau dồi và phát huy vai trò của mình.

 


Style Switcher

Layout Style

Predefined Colors

Background Image